Thursday, 4 February 2016

Tặng Vệ Bát xử sĩ 贈衛八處士 (Đỗ Phủ 杜甫)






 















漿








 
Tặng Vệ Bát xử sĩ Đỗ Phủ

nhân sanh bất tương kiến, động như sâm dữ thương. kim tịch phục hà tịch, cộng thử đăng chúc quang. thiếu tráng năng ki thì, mấn phát các dĩ thương. phỏng cựu bán vi quỷ, kinh hô nhiệt trung tràng. yên tri nhị thập tái, trùng thướng quân tử đường. tích biệt quân vị hôn, nhi nữ hốt thành hàng. di nhiên kính phụ chấp, vấn ngã lai hà phương. vấn đáp nãi vị dĩ, khu nhi la tửu tương. dạ vũ tiễn xuân cửu, tân xuy gián hoàng lương. chủ xưng hội diện nan, nhất cử lũy thập trường. thập trường diệc bất túy, cảm tử cố ý trường. minh nhật cách san nhạc, thế sự lưỡng mang mang.
 
Tặng Vệ Bát xử sĩ
Đỗ Phủ

Đời người chẳng được gặp nhau,
Sâm Thương chia biệt biết sao bây giờ
Cùng anh dưới ngọn đèn xưa
Tuổi xanh ai có mấy mùa hỡi ơi
Tóc đen nay đã trắng rồi
Hỏi thăm bạn cũ lắm người ra ma
Đau lòng đứt ruột kêu la
Hai mươi năm đã trôi qua ai ngờ
Lại về dưới mái nhà xưa
Nhớ anh ngày đó vẫn chưa vợ mà
Bây giờ con cái xếp ra
Chắp tay kính cẩn chào cha khác gì
Hỏi rằng ở xứ nào về
Nói chưa xong đã giục đi dọn bàn
Rượu bày thức uống xênh xang
Mưa đêm ra cắt đôi hàng hẹ xuân
Cơm vừa thổi, độn kê vàng
Bảo rằng gặp gỡ muôn vàn khó khăn
Tay nâng mười chén uống tràn
Vẫn chưa say được can tràng của tôi
Cảm thương ý tứ bồi hồi
Ngày mai lại cách núi đồi quan san
Cuộc đời đôi bạn mênh mang

 

(ĐTK dịch)




Monday, 25 January 2016

Bộ xà giả thuyết 捕蛇者說


Liễu Tông Nguyên (773-819) đặt ra truyện ngụ ngôn này để chê chính sách thuế má nặng nề thời đó.
Đoạn tả bọn nha lại nửa đêm tới vơ vét của dân rất linh động, thái độ hung hăng của chúng ngược hẳn với thái độ điềm nhiên của người bắt rắn. Thú vị nhất là câu: "ngó cái vò thì rắn của tôi vẫn còn". (Nguyễn Hiến Lê, Cổ văn Trung Quốc)

 
Lời người bắt rắn
[I]











 

[II]





[III]



















[IV]








西


[V]



退








 

[VI]







[I] Cánh đồng Vĩnh Châu có sinh ra một thứ rắn lạ, mình đen (1) vằn trắng (2), nó đụng chạm vào cây cỏ nào thì (cây cỏ) đều chết, cắn (3) ai cũng vô phương cứu chữa. Nếu bắt được nó phơi khô (4) làm thuốc thì chữa được (5) các chứng phong nặng (6), chân tay co quắp (7), cổ sưng, ghẻ độc, làm tiêu được thịt thối, giết được trùng tam thi (8). Mới đầu quan thái y (9) theo lệnh vua cho gom bắt loài rắn đó, mỗi năm trưng thu hai lần; chiêu mộ những người có tài bắt rắn, nộp lên thay cho thuế ruộng. Dân Vĩnh Châu tranh nhau đi bắt.
 

[II] Có người họ Tưởng nọ chuyên về mối lợi đó đã ba đời. Tôi hỏi thì đáp: “Ông tôi chết vì rắn, cha tôi chết vì rắn, nay tôi nối nghiệp được mười hai năm, đã mấy lần suýt chết.”
Nói xong, vẻ mặt cực buồn thảm. [III] Tôi ái ngại, hỏi: “Chú (10) oán việc đó lắm ư? Để tôi nói với quan địa phương (11), thay đổi việc phục dịch cho chú, chú sẽ đóng thuế ruộng như trước, chú nghĩ sao?” Họ Tưởng rất bi thảm, nước mắt giàn giụa (12), đáp: “Ông thương mà muốn cứu sống tôi chăng? Nhưng việc này, tuy bất hạnh, mà so với cái bất hạnh phải đóng thuế ruộng trở lại, còn đỡ khổ hơn nhiều. Nếu tôi không làm việc này thì khốn khổ đã lâu rồi. Họ tôi ở làng này đã ba đời, tính tới nay được sáu chục năm, mà cuộc sống của người trong làng mỗi ngày một thêm cùng khốn, ruộng đất sản xuất được bao nhiêu đều hết nhẵn, thu nhập trong nhà đều nộp lên hết, kêu gào mà bỏ đi, đói khát khốn đốn, mắc mưa mắc gió, chịu nóng chịu lạnh, hít thở khí độc, đã bao người chết, thây nằm ngổn ngang. [IV] Những người trước kia cùng sống với ông tôi trong làng, nay mười nhà không còn một; những người cùng sống với cha tôi, nay mười nhà không còn được hai, ba; những người cùng sống với tôi mười hai năm nay, hiện trong mười nhà không còn được bốn, năm; nếu không chết thì cũng phải dời đi nơi khác, tôi nhờ bắt rắn mà riêng còn sống ở đây. Bọn lại hung ác tới làng tôi, hò hét náo loạn ở bốn phía, ồn ào làm cho mọi người kinh hoảng, tới gà chó cũng không được yên. [V] Tôi rón rén đứng dậy, ngó cái vò, thấy rắn của tôi vẫn còn, thế là yên lòng nằm xuống ngủ, cẩn thận nuôi rắn, đợi đúng lúc dâng lên vua, mà rồi được hưởng những món ngon miền này cho đến hết tuổi đời. Vì mỗi năm tôi chỉ phải nguy tánh mạng hai lần thôi, còn thì hớn hở vui vẻ (13) suốt năm, có đâu như những người khác trong làng ngày nào cũng khốn khổ! Bây giờ giá tôi có chết vì bắt rắn thì cũng còn là chết sau những bà con lối xóm, như vậy thì sao dám oán gì nữa?”
 

[VI] Tôi nghe mà càng thương tâm. Khổng Tử nói: “Chính sách hà khắc còn tàn bạo hơn cọp.” (14) Tôi đã từng ngờ lời đó, nay xét qua đời người họ Tưởng này mới tin là đúng. Than ôi, ai biết cho rằng cái độc hại của thuế má nặng nề còn tệ hơn cái độc hại của rắn nữa! Cho nên tôi chép lại  lời người bắt rắn này để đợi các nhà khảo sát dân tình phong tục hiểu thấu.   

(Dịch theo Nguyễn Hiến Lê, Cổ văn Trung Quốc, trang 287)











Chú thích


(1) mình đen: nguyên văn hắc chất thân mình màu đen.
(2) vằn trắng: nguyên văn bạch chương hoa văn màu trắng.
(3) cắn: nguyên văn niết . Cũng như giảo .
(4) phơi khô: nguyên văn tịch thịt khô; ở đây dùng làm động từ: đem phơi ở chỗ có gió cho khô.
(5) chữa được: nguyên văn . Cũng như chỉ .
(6) chứng phong nặng: nguyên văn đại phong . Cũng như ma phong bệnh .
(7) chân tay co quắp: nguyên văn luyên uyển .
(8) trùng tam thi: nguyên văn tam trùng . Tức là tam thi trùng , đạo gia gọi đầu, ngực và bụng là tam thi, chỗ do đó sinh bệnh. Có thuyết nói "tam trùng" là kí sinh trùng.
(9) thái y: chức quan coi về việc thuốc trong cung vua.
(10) chú: nguyên văn nhược , nhân vật đại danh từ ngôi thứ hai (mày, ngươi, v.v.)
(11) quan địa phương: nguyên văn lị sự giả , chỉ quan lại đến nhậm việc ở một nơi.
(12) nước mắt giàn giụa: nguyên văn uông nhiên , nước mắt chảy không ngừng.
(13) hớn hở vui vẻ: nguyên văn hi hi dáng vui hòa.
(14) chính sách hà khắc: Khổng Tử đi qua bên núi Thái Sơn, có một người đàn bà khóc ở mộ rất bi thương. Phu tử tựa vào đòn ngang xe cúi mình xuống để nghe, sai T Lộ hỏi bà ta rằng: “Tiếng khóc của bà dường như có nhiều nỗi đau buồn?” (Người đàn bà) bèn trả lời rằng: “Đúng thế. Ngày trước cha chồng tôi chết vì cọp, chồng tôi cũng chết vì cọp, nay con tôi lại chết vì cọp.” Phu tử nói rằng: “Tại sao bà không bỏ đi?” (Người đàn bà) đáp: “Ở đây không có chính sách hà khắc.” Phu tử nói rằng: “Các trò hãy ghi nhớ điều đó. Chính sách hà khắc còn tàn bạo hơn cọp dữ.” (Trần Văn Chánh dịch, Toàn thư tự học chữ Hán – Nhà xuất bản Trẻ)



Tham khảo

Nguyễn Hiến Lê, Cổ văn Trung Quốc, Xuân Thu xuất bản, USA, Houston.
http://rthk.hk/chiculture/chilit/dy04_1604.htm
https://www.youtube.com/watch?v=cK5mnJd0e3o